Hương cốm Hợp Thành - Giữ nghề xưa, thêm sinh kế mới

Từ những bông lúa nếp vừa độ chín tới, đồng bào Tày ở Hợp Thành, tỉnh Lào Cai, vẫn gìn giữ nghề làm cốm qua nhiều thế hệ. Nay, thức quà dân dã ấy không chỉ lưu giữ hương vị truyền thống mà còn trở thành sản phẩm hàng hóa, giúp người dân tăng thu nhập.

Tỉ mỉ từng công đoạn, giữ hương cốm quê nhà

Khi những bông lúa nếp bắt đầu vào độ chín tới cũng là lúc các gia đình ở Hợp Thành tất bật bước vào mùa làm cốm. Trên những cánh đồng, người dân chọn những bông lúa vừa độ, hạt còn căng sữa, mang về chế biến. Trong mỗi gia đình, công việc nối tiếp nhau từ thu hoạch, tuốt lúa, sàng sảy đến rang, giã và làm sạch.

Nghề làm cốm đã gắn bó với đời sống của đồng bào Tày ở Hợp Thành từ lâu. Trước đây, người dân chủ yếu làm cốm để gia đình thưởng thức, biếu người thân hoặc sử dụng trong những dịp lễ, Tết. Qua nhiều thế hệ, cách làm truyền thống vẫn được gìn giữ, trở thành một nét sinh hoạt quen thuộc mỗi khi mùa lúa về.

Theo chị Nông Thị Ngài, ở thôn Hợp Thành, xã Hợp Thành, để có mẻ cốm ngon, người làm phải cẩn thận ngay từ khâu chọn lúa. Lúa được thu hoạch đúng độ, không quá non cũng không quá già, bởi đây là yếu tố ảnh hưởng đến độ dẻo, vị ngọt và hương thơm của thành phẩm. Sau khi thu hoạch, lúa được tuốt, sàng sảy, loại bỏ hạt lép rồi làm sạch trước khi rang.

Trong các công đoạn, rang lúa là khâu đòi hỏi nhiều kinh nghiệm. Người làm phải giữ lửa vừa phải, đảo đều tay để hạt lúa chín tới, không bị cháy hoặc khô quá mức. Lúa rang xong được để nguội rồi đưa vào cối giã để tách vỏ trấu. Sau đó, cốm tiếp tục được sàng, sảy nhiều lần cho sạch trấu và những phần vụn còn sót lại.

Cốm Hợp Thành còn gắn với đời sống văn hóa của đồng bào Tày, đặc biệt trong dịp Tết cơm mới.

Nhìn qua, sàng sảy tưởng là công việc đơn giản nhưng cũng cần sự khéo léo. Tay phải đủ nhẹ để loại bỏ trấu mà không làm vỡ hoặc rơi mất hạt cốm. Mỗi công đoạn đều có yêu cầu riêng, đòi hỏi người làm phải kiên nhẫn và tích lũy kinh nghiệm qua nhiều mùa vụ.

Từ những hạt lúa nếp bình dị, qua đôi bàn tay khéo léo của người dân, cốm thành phẩm có màu xanh tự nhiên, độ dẻo và hương thơm dịu nhẹ. Với người làm nghề, niềm vui không chỉ là hoàn thành một mẻ cốm ngon mà còn là giữ được hương vị quen thuộc đã gắn bó với quê hương từ bao đời.

Cốm Hợp Thành còn gắn với đời sống văn hóa của đồng bào Tày, đặc biệt trong dịp Tết cơm mới. Những hạt cốm đầu mùa được dùng trong các nghi lễ truyền thống, thể hiện lòng biết ơn đối với đất trời, tổ tiên và mong ước mùa màng thuận lợi, cuộc sống no đủ. Nghề làm cốm cũng gắn với nghi lễ đón hồn Mẹ Lúa – Then Pang Mẩu, thể hiện sự trân trọng đối với cây lúa và thành quả lao động của người nông dân.

Từ cốm tươi, người dân có thể chế biến thành nhiều món ăn quen thuộc như xôi cốm, bánh cốm, chả cốm. Bởi vậy, cốm không chỉ là sản vật của đồng ruộng mà còn là một phần trong đời sống văn hóa, ẩm thực của cộng đồng.

Sản lượng cốm của xã Hợp Thành đạt khoảng 12 tấn mỗi vụ, mang lại nguồn thu cho người dân.

Nâng giá trị hạt lúa, tạo sinh tế từ nghề truyền thống

Cùng với nhu cầu tiêu dùng, nghề làm cốm ở Hợp Thành đang từng bước chuyển từ sản xuất phục vụ gia đình sang làm hàng hóa. Nhiều hộ quan tâm hơn đến chất lượng, đóng gói, nhãn hiệu và tìm đầu ra ổn định cho sản phẩm.

Tổ sản xuất cốm xã Hợp Thành hiện có 36 hộ tham gia, trong đó một số hộ thường xuyên sản xuất để bán. Theo bà Phạm Thị Bền, Trưởng thôn Cáng, xã Hợp Thành, đồng thời là Tổ trưởng Tổ sản xuất cốm xã Hợp Thành, việc tổ chức các hộ cùng tham gia sản xuất góp phần duy trì nghề truyền thống, đưa sản phẩm đến gần hơn với người tiêu dùng và tạo thêm thu nhập cho người dân.

Hiện, cốm Hợp Thành được tiêu thụ tại các chợ phiên và thông qua tổ sản xuất. Giá bán phổ biến khoảng 100.000 – 150.000 đồng/kg; sản phẩm được đóng gói, dán nhãn có giá khoảng 150.000 đồng/kg. Sản lượng cốm của địa phương đạt khoảng 12 tấn mỗi vụ, mang lại nguồn thu cho các hộ làm nghề.

Hiện cốm Hợp Thành được tiêu thụ tại các chợ phiên và thông qua tổ sản xuất. Giá bán phổ biến khoảng 100.000 – 150.000 đồng/kg; sản phẩm được đóng gói, dán nhãn có giá khoảng 150.000 đồng/kg. 

Từ hạt lúa nếp, qua chế biến thành cốm, giá trị nông sản được nâng lên, đồng thời tạo thêm việc làm tại chỗ. Phụ nữ là lực lượng tham gia nhiều công đoạn, từ lựa lúa, rang, giã đến sàng sảy và đóng gói. Việc làm cốm tại nhà giúp các gia đình tận dụng thời gian nông nhàn, chủ động sắp xếp công việc đồng áng và có thêm khoản thu nhập.

Nghề làm cốm phát triển cũng tạo động lực để người dân duy trì vùng nguyên liệu, lựa chọn giống lúa nếp phù hợp với yêu cầu sản xuất. Khi sản phẩm có đầu ra thuận lợi, hạt lúa không chỉ phục vụ nhu cầu của gia đình mà còn trở thành nguyên liệu tạo ra hàng hóa có giá trị cao hơn.

Cốm Hợp Thành đã được công nhận là sản phẩm OCOP 3 sao. Đây là điều kiện thuận lợi để địa phương tiếp tục nâng cao chất lượng, hoàn thiện bao bì, nhãn hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ. Tuy nhiên, để nghề phát triển bền vững, người dân vẫn cần chú trọng nguồn nguyên liệu, vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm và liên kết trong sản xuất, tiêu thụ.

Theo định hướng phát triển của địa phương, việc nâng giá trị sản phẩm cần đi đôi với bảo tồn nghề truyền thống. Những kinh nghiệm được đúc kết qua nhiều mùa lúa, từ chọn thời điểm thu hoạch, canh lửa rang đến giã và sàng cốm, chính là yếu tố tạo nên nét riêng của cốm Hợp Thành.

Cốm Hợp Thành còn gắn với đời sống văn hóa của đồng bào Tày, đặc biệt trong dịp Tết cơm mới.

Hằng năm, xã Hợp Thành tổ chức Lễ hội Cốm với các hoạt động trải nghiệm làm cốm, thi giã cốm, giới thiệu ẩm thực và nét văn hóa truyền thống của đồng bào Tày, Dao, Giáy, Xá Phó. Ngày hội góp phần quảng bá sản phẩm, tạo cơ hội để người dân giới thiệu nghề truyền thống và giúp du khách hiểu hơn về phong tục, tập quán của cộng đồng địa phương.

Tuy nhiên, để nghề được duy trì lâu dài, điều quan trọng nhất vẫn là người dân có động lực tiếp tục làm nghề và có thu nhập từ nghề. Những người phụ nữ bên chảo rang, bên cối giã; những gia đình chăm chút ruộng lúa nếp; những người lớn tuổi truyền lại kinh nghiệm cho lớp trẻ chính là những người đang gìn giữ nghề bằng những việc làm bình dị hằng ngày.

Từ cánh đồng đến gian bếp, rồi theo chân người dân ra chợ phiên và đến với khách hàng, cốm Hợp Thành đang có thêm hành trình mới. Giữ hương cốm truyền thống cũng là giữ giống lúa, tạo sinh kế và lưu giữ những nét văn hóa đã gắn bó với đồng bào Tày qua bao mùa lúa. Đó là cách người dân Hợp Thành vừa phát triển kinh tế, vừa gìn giữ những giá trị thân thuộc của quê hương./.

Hà Phương

Tin Liên Quan

Nhịp cầu gắn kết cộng đồng

Trong khuôn khổ Lễ hội Văn hóa Du lịch Mường Lò, từ 17h30 ngày 16/10, dọc trục đường Điện Biên - Nguyễn Quang Bích - sân vận động Nghĩa Lộ, bắt đầu màn lễ hội đường phố sinh động, đậm đà bản sắc.

Người giữ “hồn” khèn Mông ở Hạnh Phúc

Bằng tình yêu tha thiết với văn hóa dân tộc, ông Hờ A Thào (sinh năm 1974), ở thôn Tà Xùa, xã Hạnh Phúc, đã dành nhiều tâm huyết truyền dạy nghệ thuật thổi khèn, múa khèn Mông cho thế hệ trẻ.

Lào Cai: Triển lãm ảnh chào mừng Tuần Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026

Hưởng ứng Tuần Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026 và hướng tới kỷ niệm 5 năm Nghệ thuật Xòe Thái được UNESCO vinh danh là Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại (15/12/2021 - 15/12/2026), Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức hai triển lãm ảnh nghệ thuật quy mô lớn.

Biểu tượng văn hóa độc đáo của người Thái đen

Trên những nếp nhà sàn truyền thống ở Mường Lò, Khau cút là dấu ấn kiến trúc đặc trưng của đồng bào Thái đen. Không đơn thuần là chi tiết trang trí, Khau cút còn chứa đựng những câu chuyện về cội nguồn, cộng đồng và cách người Thái gửi gắm dấu ấn văn hóa trên chính ngôi nhà của mình.

Nơi hạt cốm kết tinh bản sắc văn hóa

Ở Hợp Thành, cốm không đơn thuần là sản vật từ mùa lúa nếp non, mà còn gắn với phong tục tri ân tổ tiên và nghi lễ Then pang mẩu của người Tày. Trên nền tảng văn hóa ấy, sự giao thoa giữa các dân tộc Tày, Dao đỏ, Xá Phó cùng cộng đồng cư dân địa phương tạo nên sắc thái riêng cho Lễ hội Cốm, góp phần...

Xoè Thái - Sức sống di sản

Từ những vòng xòe trong nếp nhà sàn, bản làng đến sân khấu lễ hội và không gian du lịch cộng đồng, nghệ thuật Xòe Thái ở Mường Lò, Nghĩa Lộ tiếp tục được gìn giữ, trao truyền và phát huy giá trị. Năm năm sau khi được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, sức sống của di...