
Giai đoạn 2016 - 2025, toàn tỉnh triển khai 21 dự án ứng dụng và chuyển giao khoa học - công nghệ, xây dựng 68 mô hình sản xuất, chuyển giao 100 quy trình kỹ thuật. Quan trọng hơn, đó là sự thay đổi trong tư duy sản xuất: từ manh mún, tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa gắn với thị trường.
Tại nhiều địa bàn vùng cao, các mô hình trồng chè Shan, dược liệu, chăn nuôi gia súc, nuôi cá lồng đã trở thành “điểm tựa” sinh kế. Tiến bộ kỹ thuật không chỉ nâng cao năng suất mà còn giảm chi phí, tăng thu nhập rõ rệt.

Điển hình như mô hình nuôi cá lồng trên hồ Thác Bà giúp giảm khoảng 50% giá thành sản xuất cá giống, mang lại lợi nhuận trên 2,3 tỷ đồng. Trong chăn nuôi, việc áp dụng đệm lót sinh học, hầm biogas góp phần xử lý chất thải, cải thiện môi trường.
Các dự án tại vùng cao còn giúp đồng bào dân tộc thiểu số ổn định sản xuất tại chỗ, hạn chế tình trạng phá rừng làm nương. Đây là hiệu quả kép, vừa phát triển kinh tế, vừa bảo vệ tài nguyên. Mô hình chè Shan là ví dụ tiêu biểu. Nhiều vùng chè mang lại thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm, tạo việc làm ổn định cho lao động địa phương.
Theo bà Lâm Thị Kim Thoa - Giám đốc Hợp tác xã Suối Giàng, nhờ ứng dụng công nghệ mới kết hợp bí quyết truyền thống, hợp tác xã đã phát triển 8 dòng sản phẩm giá trị cao như Bạch trà, Hồng trà, Lục trà… Sản phẩm của hợp tác xã đã xuất khẩu sang các thị trường như: Nhật Bản, Mỹ, châu Âu, với giá bán cao hơn nhiều lần so với sản phẩm thông thường.

Không chỉ nâng cao giá trị sản phẩm, khoa học - công nghệ còn làm thay đổi căn bản tập quán canh tác. Người dân từng bước chuyển từ sản xuất theo kinh nghiệm sang áp dụng quy trình kỹ thuật bài bản, sử dụng giống mới, công nghệ tưới tiết kiệm, xử lý môi trường trong chăn nuôi.
Nhờ đó, sản xuất trở nên ổn định, giảm rủi ro phụ thuộc vào tự nhiên. Đáng chú ý, nhiều mô hình đã hình thành liên kết theo chuỗi giá trị, doanh nghiệp giữ vai trò “đầu tàu” từ cung ứng vật tư, chuyển giao kỹ thuật đến bao tiêu sản phẩm, giúp người dân yên tâm sản xuất, giảm rủi ro thị trường.

Thực tiễn cho thấy, khi khoa học - công nghệ vào đời sống, nó không chỉ tạo ra sản phẩm mà còn tạo ra sinh kế và niềm tin. Vấn đề còn lại là làm sao để những mô hình điểm không dừng ở “điểm sáng”, mà trở thành “mặt bằng chung” trong phát triển kinh tế ở vùng cao.
https://baolaocai.vn/khi-khoa-hoc-cong-nghe-thanh-dong-luc-thuc-day-kinh-te-vung-cao-post898780.html