Phê duyệt chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035

Ngày 09/6/2014 Chính phủ ban hành Quyết định số 879/QĐ-TTg về việc phê duyệt chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035.
Theo quyết định, chiến lược phát triển công nghiệp sẽ huy động hiệu quả mọi nguồn lực từ các thành phần kinh tế trong nước và từ bên ngoài để phát triển, tái cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng hiện đại; chú trọng đào tạo nguồn nhân lực công nghiệp có kỹ năng, có kỷ luật, có năng lực sáng tạo; ưu tiên phát triển và chuyển giao công nghệ đối với các ngành, các lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh và công nghệ hiện đại, tiên tiến ở một số lĩnh vực chế biến nông, lâm, thủy sản, điện tử, viễn thông, năng lượng mới và tái tạo, cơ khí chế tạo và hóa dược; điều chỉnh phân bố không gian công nghiệp hợp lý nhằm phát huy sức mạnh liên kết giữa các ngành, vùng, địa phương để tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Các ngành công nghiệp được lựa chọn ưu tiên phát triển là ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành Điện tử và Viễn thông; ngành Năng lượng mới và năng lượng tái tạo.
 
Mục tiêu tổng quát của chiến lược:

Đến năm 2025 với cơ cấu hợp lý theo ngành và lãnh thổ, có khả năng cạnh tranh để phát triển trong hội nhập, có công nghệ hiện đại và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu ở một số chuyên ngành, lĩnh vực, có khả năng đáp ứng cơ bản các yêu cầu của nền kinh tế và xuất khẩu; đội ngũ lao động có đủ trình độ đáp ứng nhu cầu của nền sản xuất hiện đại.

Đến năm 2035, công nghiệp Việt Nam được phát triển với đa số các chuyên ngành có công nghệ tiên tiến, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, cạnh tranh bình đẳng trong hội nhập quốc tế; đội ngũ lao động chuyên nghiệp, có kỷ luật và có năng suất cao, chủ động trong các khâu nghiên cứu, thiết kế, chế tạo.

Trên cơ sở những mục tiêu này, Chiến lược đưa ra một số nhóm giải pháp đột phá như:

Đổi mới thể chế phát triển công nghiệp, trong đó hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước nhằm khắc phục, hạn chế sự chồng chéo, bảo đảm chính sách ổn định, nhất quán và đơn giản về thủ tục hành chính khuyến khích phát triển sản xuất; tăng cường công tác điều phối phát triển theo ngành, vùng và lãnh thổ, nâng cao hiệu quả của công tác chỉ đạo, điều hành nhằm liên kết có hiệu quả giữa các địa phương trong phát triển công nghiệp; tạo sự bình đẳng giữa các khu vực kinh tế, đặc biệt tập trung nâng cao hơn nữa vai trò của khu vực kinh tế tư nhân thông qua việc thực thi có hiệu quả việc bảo hộ quyền sở hữu và bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực;...

Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, trong đó tập trung tái cơ cấu ngành công nghiệp và tái cấu trúc doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước theo Đề án đã được phê duyệt; điều chỉnh kịp thời phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước phù hợp với tình hình cụ thể, hoàn thiện và ban hành tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước theo ngành nghề, lĩnh vực;...

Phát triển nguồn nhân lực theo hướng xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực cho các ngành công nghiệp ưu tiên theo từng giai đoạn cụ thể; xây dựng và ban hành hệ thống tiêu chuẩn chất lượng đào tạo ở tất cả các cấp, trước mắt là tiêu chuẩn kỹ năng nghề theo chuẩn quốc tế; hoàn thiện thị trường lao động, dịch vụ giới thiệu việc làm;...

Về công nghệ, tập trung đầu tư xây dựng một số cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ có đủ năng lực tiếp thu làm chủ công nghệ mới, sáng tạo công nghệ phục vụ phát triển các ngành, lĩnh vực công nghiệp ưu tiên;...

Về các nhóm giải pháp dài hạn:

 Chiến lược nêu rõ: xây dựng hệ thống chính sách ưu đãi, thông thoáng gắn với công tác tuyên truyền, xúc tiến đầu tư để thu hút nguồn vốn trong xã hội và đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư vào phát triển các ngành công nghiệp; khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng quy mô đầu tư cả về nguồn vốn và phạm vi; lựa chọn các nhóm ngành công nghiệp hỗ trợ cần ưu tiên phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của từng giai đoạn; tăng cường sự liên kết giữa các địa phương trong vùng kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển các ngành công nghiệp;..../.
Hương Thủy

Tin Liên Quan

MTTQ Việt Nam lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo hiệu quả công tác

Đại hội Đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031 xác định tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư, gần dân, sát dân, lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo hiệu quả công tác.

Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ XI

Sáng 12/5, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031 đã chính thức khai mạc. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn phát...

Tạo đột phá chiến lược trong quan hệ giữa Việt Nam với Ấn Độ và Sri Lanka

Theo Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung, chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Ấn Độ và Sri Lanka đã tạo đột phá chiến lược, tạo điều kiện cho những bước chuyển về chất trong định hướng phát triển quan hệ với Ấn Độ và Sri Lanka.

Hình ảnh, vị thế, vai trò Việt Nam với ASEAN trong một thế giới biến động

Chuyến công tác của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tham dự Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 nhằm tiếp tục triển khai nhất quán đường lối đối ngoại theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, trong đó ASEAN tiếp tục là ưu tiên chiến lược hàng đầu, đồng thời khẳng định...

Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031

Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031 được tổ chức từ ngày 11 - 13/5/2026 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Thủ đô Hà Nội.

Sớm giao chỉ tiêu tăng trưởng cho các địa phương, doanh nghiệp Nhà nước

Hôm nay, 7/5, tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng chủ trì cuộc họp về việc giao chỉ tiêu tăng trưởng các địa phương, doanh nghiệp nhà nước để thực hiện Kết luận 18-KL/TW của Trung ương và Nghị quyết 109/NQ-CP của Chính phủ.